Xác định giá thị trường trong giao dịch liên kết | KPMG | VN

Thuế Quốc tế - Xác định giá thị trường trong giao dịch liên kết

Xác định giá thị trường trong giao dịch liên kết

Năm 2017 đánh dấu một bước ngoặt lớn trong quy định về vấn đề xác định giá thị trường trong giao dịch liên kết tại Việt Nam. Chính phủ Việt Nam đã giao cho Bộ Tài chính đưa ra các chương trình cải cách thuế và cập nhật các quy định thuế hiện tại, có xem xét đến các chương trình hành động chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận ra nước ngoài (“BEPS”) theo khuyến nghị của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Trong bối cảnh đó, ngày 24 tháng 2 năm 2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định 20/2017/NĐ-CP Quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết (Nghị định 20).

1000

Nội dung liên quan

vn-ship

Hơn bao giờ hết, các công ty đa quốc gia đầu tư tại Việt Nam và các công ty Việt Nam đầu tư ra nước ngoài cần cẩn trọng hơn trong việc thực hiện các giao dịch liên kết và chuẩn bị sẵn sàng cho chương trình cải cách thuế tập trung vào nơi các hoạt động kinh tế được thực hiện và giá trị được tạo ra. Ngoài ra, các công ty này cũng cần tuân thủ quy định mới về việc lập Hồ sơ xác định giá Giao dịch liên kết, bao gồm Hồ sơ thông tin tập đoàn toàn cầu, Hồ sơ quốc gia và Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia.

Nghị định có hiệu lực từ ngày 01 tháng 5 năm 2017, và do đó sẽ có thể được áp dụng từ năm tài chính 2017 trở đi.

I. Nghị định 20 - Các điểm mới

1. Quy định mới về kê khai, xác định giá giao dịch liên kết

1.1 Thay đổi quy định về Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết

Yêu cầu về Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết theo Nghị định mới có tham khảo các yêu cầu về hồ sơ theo Kế hoạch hành động số 13 của chương trình hành động BEPS của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Do đó, quy định mới có nhiều điểm chính xác và chặt chẽ hơn quy định trong Thông tư số 66/2010/TT-BTC. Cụ thể, hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết bao gồm:

  • Hồ sơ thông tin tập đoàn toàn cầu Mô tả tổng quan về tập đoàn và hoạt động của tập đoàn;
  • Hồ sơ quốc gia cung cấp thông tin chi tiết về các hoạt động và các giao dịch tại từng quốc gia tương ứng; và
  • Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia của Công ty mẹ tối cao bao gồm các thông tin liên quan đến lợi nhuận và số thuế phải nộp của các tập đoàn đa quốc gia cùng với một số chỉ số liên quan đến hoạt động kinh tế của tập đoàn.

Trường hợp người nộp thuế có Công ty mẹ tối cao tại nước ngoài, người nộp thuế có trách nhiệm cung cấp bản sao Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia của Công ty mẹ tối cao trong trường hợp Công ty mẹ tối cao của người nộp thuế phải nộp Báo cáo này cho Cơ quan thuế nước sở tại theo biểu mẫu kê khai của Cơ quan thuế nước sở tại. Trong trường hợp người nộp thuế không cung cấp được Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia, người nộp thuế phải có văn bản giải thích lý do, căn cứ pháp lý và trích dẫn quy định pháp luật cụ thể của nước đối tác về việc không cho phép người nộp thuế cung cấp Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia.

Trường hợp người nộp thuế là Công ty mẹ tối cao tại Việt Nam có doanh thu hợp nhất toàn cầu trong kỳ tính thuế từ mười tám nghìn tỷ đồng trở lên (xấp xỉ 750 triệu Euro), có trách nhiệm lập Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia.

Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết được lập trước thời điểm kê khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp hàng năm và phải lưu giữ, xuất trình theo yêu cầu cung cấp thông tin của Cơ quan thuế. Khi Cơ quan thuế thực hiện thanh tra, kiểm tra người nộp thuế, thời hạn cung cấp Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết không quá 15 ngày làm việc kể từ khi nhận được yêu cầu của Cơ quan thuế.

Trong quá trình tham vấn trước khi tiến hành thanh tra, thời hạn cung cấp Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết không quá 30 ngày làm việc kể từ khi nhận được văn bản yêu cầu của Cơ quan thuế. Trường hợp người nộp thuế có lý do chính đáng thì thời hạn cung cấp Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết được gia hạn 1 lần không quá 15 ngày làm việc, kể từ ngày hết hạn.

Các trường hợp người nộp thuế được miễn lập Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết

Nghị định 20 quy định một số trường hợp được miễn lập Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kế, cụ thể như sau:

  • Ngưỡng miễn trừ nghĩa vụ cho người nộp thuế có quy mô nhỏ: Người nộp thuế có phát sinh giao dịch liên kết nhưng tổng doanh thu phát sinh của kỳ tính thuế dưới 50 tỷ đồng và tổng giá trị tất cả các giao dịch liên kết phát sinh trong kỳ tính thuế dưới 30 tỷ đồng;
  • Người nộp thuế đã ký kết Thoả thuận trước về phương pháp xác định giá thực hiện nộp Báo cáo thường niên theo quy định pháp luật về Thoả thuận trước về phương pháp xác định giá. Các giao dịch liên kết không thuộc phạm vi áp dụng Thoả thuận trước về phương pháp xác định giá, người nộp thuế có nghĩa vụ kê khai xác định giá giao dịch liên kết theo quy định.
  • Người nộp thuế thực hiện kinh doanh với chức năng đơn giản, không phát sinh doanh thu, chi phí từ hoạt động khai thác, sử dụng tài sản vô hình, có doanh thu dưới 200 tỷ đồng, áp dụng tỷ suất lợi nhuận thuần trước lãi vay và thuế thu nhập doanh nghiệp trên doanh thu, bao gồm các lĩnh vực như sau:
    • Phân phối: Từ 5% trở lên;
    • Sản xuất: Từ 10% trở lên
    • Gia công: Từ 15% trở lên.

Người nộp thuế được miễn lập Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết vẫn có nghĩa vụ kê khai xác định giá giao dịch liên kết theo quy định dưới đây.

1.2 Kê khai xác định giá giao dịch liên kết – Mẫu số 01

Người nộp thuế có giao dịch liên kết có trách nhiệm kê khai thông tin về quan hệ liên kết và giao dịch liên kết, bao gồm phương pháp, giá trị, loại giao dịch liên kết, quốc gia của bên liên kết, v.v cùng với các thông tin khác và nộp trong vòng 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính. Các thông tin này được kê khai theo Mẫu số 01 (cùng với Tờ khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp). Sự thay đổi đáng kể trong Mẫu số 01 là việc yêu cầu người nộp thuế điều chỉnh kết quả kinh doanh của người nộp thuế một cách tự nguyện, theo ba (3) mẫu dành cho (i) người nộp thuế thuộc các ngành sản xuất, thương mại, dịch vụ; (ii) người nộp thuế thuộc các ngành ngân hàng, tín dụng; và (iii) người nộp thuế là các công ty giao dịch liên kết tại Mục III (Thông tin xác định giá giao dịch liên kết) và Mục IV (Kết quả sản xuất kinh doanh sau khi xác định giá giao dịch liên kết) Mẫu số 01 trong trường hợp chỉ phát sinh giao dịch với các bên liên kết là đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam, áp dụng cùng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp với người nộp thuế và không bên nào được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp trong kỳ tính thuế, nhưng phải kê khai căn cứ miễn trừ tại mục tại Mục I (Thông tin về các bên liên kết) và Mục II (Các trường hợp được miễn nghĩa vụ kê khai, miễn trừ việc nộp hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết) tại Mẫu số 01.

2. Các nguyên tắc và quy định mới

Nghị định 20 đưa ra một số nguyên tắc và quy định mới, bao gồm

  • Nguyên tắc mới “Bản chất quyết định hình thức” thể hiện việc phân tích xác định giá giao dịch liên kết có thể vượt ra ngoài hình thức của giao dịch được thể hiện trong hợp đồng, văn bản nhằm mục đích phân tích bản chất liên quan đến hoạt động tạo ra giá trị. Dự kiến cơ quan thuế có thể xem xét hợp đồng trước khi xem xét giao dịch thực tế dựa trên bản chất, nhằm giảm thiểu gánh nặng chứng minh cho người nộp thuế
  • Đánh giá mức độ tương đương của các Giao dịch liên kết với các giao dịch độc lập (Nguyên tắc giao dịch độc lập); và
  • Cân nhắc toàn bộ quá trình phát triển, gia tăng, duy trì, bảo vệ và khai thác tài sản vô hình.

Việc áp dụng những nguyên tắc này sẽ giúp cơ quan thuế có thể không công nhận, hoặc phân loại lại các giao dịch liên kết trong trường hợp các giao dịch này làm giảm thu nhập chịu thuế hay nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp.

2.1 Sửa đổi định nghĩa về các bên có quan hệ liên kết

Theo Nghị định 20, mối quan hệ liên kết trong trường hợp kiểm soát đầu vào và đầu ra được loại bỏ (cụ thể là một doanh nghiệp cung cấp trực tiếp hoặc gián tiếp trên 50% tổng giá trị nguyên vật liệu, vật tư hoặc sản phẩm đầu vào; hoặc kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp trên 50% sản lượng sản phẩm tiêu thụ (tính theo từng chủng loại sản phẩm) của một doanh nghiệp khác).

Ngoài ra, ngưỡng xác định mối quan hệ liên kết được sửa đổi. Ví dụ, tỷ lệ góp vốn trực tiếp và gián tiếp tăng từ 20% lên 25%; tỷ lệ nợ trên vốn góp chủ sở hữu trong trường hợp bảo lãnh từ tập đoàn hoặc bất kỳ khoản vay nào tăng từ 20% lên 25%.

Nghị định 20 cũng bổ sung một số số định nghĩa mới về mối quan hệ liên kết khác, bao gồm (i) một hoặc nhiều doanh nghiệp chịu sự kiểm soát của một cá nhân thông qua vốn góp của cá nhân này vào doanh nghiệp đó hoặc trực tiếp tham gia điều hành doanh nghiệp; và (ii) các doanh nghiệp chịu sự điều hành và kiểm soát quyết định trên thực tế đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp kia.

2.2 Bổ sung hướng dẫn về việc khẩu trừ thuế đối với các giao dịch liên kết không phù hợp với bản chất giao dịch độc lập, giao dịch cung cấp dịch vụ giữa các bên liên kết và chi phí lãi vay

Các giao dịch liên kết này thường bị nghi ngờ là công cụ mà các tập đoàn đa quốc gia sử dụng trong việc hoạch định các vấn đề thuế liên quốc gia phức tạp để chuyển lợi nhuận ra nước ngoài. Ngoài ra, việc rà soát các khoản thanh toán phí bản quyền của các doanh nghiệp sử dụng tài sản vô hình một cách không phù hợp, có liên quan đến hàng hóa trung gian hoặc bán thành phẩm cũng được quan tâm hơn. Các giao dịch này có thể bị coi là những hành vi làm thất thu thuế theo quan điểm của Cơ quan thuế Việt Nam.

Các giao dịch liên kết không phù hợp với bản chất giao dịch độc lập

Giao dịch liên kết không phù hợp bản chất giao dịch độc lập hoặc không góp phần tạo ra doanh thu, thu nhập cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của người nộp thuế không được trừ vào chi phí tính thuế trong kỳ, bao gồm:

  • Chi phí thanh toán cho bên liên kết không thực hiện bất kỳ hoạt động sản xuất, kinh doanh nào liên quan đến ngành nghề, hoạt động sản xuất, kinh doanh của người nộp thuế;
  • Chi phí thanh toán cho bên liên kết có hoạt động sản xuất, kinh doanh nhưng quy mô tài sản, số lượng nhân viên và chức năng sản xuất, kinh doanh không tương xứng với giá trị giao dịch mà bên liên kết nhận được từ người nộp thuế.
  • Chi phí thanh toán cho bên liên kết không có quyền lợi, trách nhiệm liên quan đối với tài sản, hàng hóa, dịch vụ cung cấp cho người nộp thuế; và
  • Chi phí thanh toán cho bên liên kết là đối tượng cư trú của một nước hoặc vùng lãnh thổ không thu thuế thu nhập doanh nghiệp, không góp phần tạo ra doanh thu, giá trị gia tăng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của người nộp thuế.

Cung cấp dịch vụ giữa các bên liên kết

Chi phí dịch vụ được xem là chi phí được trừ nếu đáp ứng đủ các điều kiện như sau:

  • Dịch vụ được cung cấp có giá trị thương mại, tài chính, kinh tế và phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của người nộp thuế;
  • Dịch vụ từ các bên liên kết chỉ được xác định đã cung cấp trong điều kiện hoàn cảnh tương tự các bên độc lập sẵn sàng chi trả cho dịch vụ này;
  • Phí dịch vụ được thanh toán trên cơ sở nguyên tắc giao dịch độc lập và phương pháp tính giá giao dịch liên kết hoặc phân bổ mức phí dịch vụ giữa các bên liên kết phải được áp dụng thống nhất trong toàn tập đoàn đối với loại hình dịch vụ tương tự và người nộp thuế phải có đầy đủ tài liệu chứng minh (bao gồm: hợp đồng, chứng từ, hoá đơn và thông tin về phương pháp tính, yếu tố phân bổ và chính sách giá của tập đoàn đối với dịch vụ được cung cấp).

Nghị định cũng quy định các trường hợp chi phí dịch vụ không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế, ví dụ: chi phí phát sinh từ các dịch vụ được cung cấp chỉ nhằm mục đích phục vụ lợi ích hoặc tạo giá trị cho các bên liên kết khác; dịch vụ phục vụ lợi ích cổ đông của bên liên kết; dịch vụ trùng lắp; v.v.

Khoản vay giữa các bên liên kết

Tổng chi phí lãi vay phát sinh trong kỳ của người nộp thuế được trừ vào chi phí tính thuế không vượt quá 20% của tổng lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh cộng với chi phí lãi vay, chi phí khấu hao trong kỳ của người nộp thuế (EBITDA).

2.3 Thứ tự lựa chọn ưu tiên đối tượng so sánh độc lập phục vụ cho mục đích phân tích so sánh

Thứ tự lựa chọn ưu tiên đối tượng so sánh độc lập được quy định trong Nghị định, trong đó yêu cầu việc phân tích tính tương đồng và các khác biệt trọng yếu định tính và định lượng khi lựa chọn đối tượng so sánh nước ngoài tại các thị trường địa lý khác. Cụ thể, thứ tự ưu tiên lựa chọn đối tượng so sánh độc lập được quy định như sau:

  • Đối tượng so sánh nội bộ của người nộp thuế;
  • Đối tượng so sánh cư trú cùng quốc gia, lãnh thổ với người nộp thuế
  • Đối tượng ở các nước trong khu vực có điều kiện ngành và trình độ phát triển kinh tế tương đồng.

2.4 Về việc sử dụng cơ sở dữ liệu (“CSDL”) của cơ quan thuế và các CSDL thương mại, dữ liệu/ thông tin được công bố công khai

Qua những trao đổi của chúng tôi với Cơ quan thuế trong quá trình soạn thảo Nghị định, CSDL của Cơ quan thuế chỉ được sử dụng cho mục đích đánh giá rủi ro của Cơ quan thuế, CSDL thương mại và thông tin được công bố công khai sẽ được xem xét để áp dụng trong trường hợp ấn định thuế/ điều chỉnh giá chuyển nhượng trong các cuộc thanh tra giá chuyển nhượng. Tuy nhiên, nội dung trong Nghị định vẫn chưa hoàn toàn rõ ràng khi cho phép Cơ quan thuế có thể sử dụng các nguồn dữ liệu khác nhau, bao gồm CSDL thương mại và dữ liệu được công bố công khai, cùng với CSDL riêng của Cơ quan thuế và thông tin được cung cấp bởi các cơ quan, bộ ngành khác cho mục đích đánh giá rủi ro giá chuyển nhượng và ấn định thuế.

Tuy nhiên, trong một số cuộc thanh tra giá chuyển nhượng, khi người nộp thuế không kê khai Mẫu 01 hoặc không xuất trình Hồ sơ xác định giá Giao dịch liên kết đúng thời hạn quy định, Cơ quan thuế có quyền hạn tuyệt đối trong việc ấn định giá chuyển nhượng/ lợi nhuận của người nộp thuế dựa trên CSDL của Cơ quan thuế.

Dựa trên kinh nghiệm của KPMG trong một số cuộc thanh tra giá chuyển nhượng gần đây, phân tích so sánh do người nộp thuế chuẩn bị sẽ được Cơ quan thuế chấp nhận nếu phân tích này được thực hiện chặt chẽ và đáng tin cậy.

2.5 Cơ sở rõ ràng hơn để Cơ quan thuế thực hiện ấn định giá chuyển nhượng

Cơ quan thuế có cơ sở rõ ràng hơn trong việc ấn định mức giá; tỷ suất lợi nhuận; tỷ lệ phân bổ lợi nhuận được sử dụng để kê khai tính thuế, ấn định thu nhập chịu thuế hoặc số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong các trường hợp sau:

  • Người nộp thuế không kê khai, kê khai không đầy đủ thông tin hoặc không nộp Mẫu số 01;
  • Người nộp thuế cung cấp không đầy đủ thông tin Hồ sơ xác định giá Giao dịch liên kết theo quy định tại Mẫu số 02 (Hồ sơ quốc gia) và Mẫu số 03 (Hồ sơ thông tin tập đoàn toàn cầu) hoặc không xuất trình Hồ sơ xác định giá Giao dịch liên kết và các dữ liệu, chứng từ và tài liệu được sử dụng làm căn cứ phân tích so sánh, xác định giá tại Hồ sơ xác định giá Giao dịch liên kết theo yêu cầu của Cơ quan thuế trong thời hạn theo quy định;
  • Người nộp thuế sử dụng các thông tin về giao dịch độc lập không trung thực, không đúng thực tế để phân tích so sánh, kê khai xác định giá Giao dịch liên kết hoặc dựa vào các tài liệu, dữ liệu và chứng từ không hợp pháp, không hợp lệ hoặc không nêu rõ nguồn gốc xuất xứ để xác định mức giá, tỷ suất lợi nhuận hoặc tỷ lệ phân bổ lợi nhuận áp dụng cho Giao dịch liên kết;
  • Người nộp thuế vi phạm Điều 11 của Nghị định.

Để tránh những hậu quả không mong muốn, chúng tôi khuyến nghị các công ty cần đặc biệt lưu ý đến những trường hợp cơ quan thuế có toàn quyền ấn định giá chuyển nhượng. Khi đó, số thuế bị điều chỉnh hoặc bị ấn định có thể rất lớn, kèm theo đó là các khoản phạt và tiền lãi chậm nộp đối với khoản thuế bị truy thu.

II. Một số vấn đề quan trọng

1. Tình hình thanh tra giá chuyển nhượng
Cơ quan thuế đã triển khai rất nhiều nỗ lực và nguồn lực để thực thi và quản lý việc tuân thủ các quy định về quản lý giá chuyển nhượng trong Giao dịch liên kết cả ở cấp trung ương và cấp địa phương, với việc thành lập các phòng thanh tra giá chuyển nhượng chuyên trách.

Trong năm 2016, Cơ quan thuế đã tiến hành thanh tra 84.472 công ty, truy thu 17.164 tỷ đồng tiền thuế. Trong đó, thanh tra giá chuyển nhượng là 329 trường hợp, với số thuế bị truy thu và tiền phạt chậm nộp là 607,52 tỷ đồng, điều chỉnh giảm lỗ 5.612,21 tỷ đồng.

Hoạt động thanh tra của Cơ quan thuế dự kiến sẽ mạnh mẽ hơn trong những năm tới, nhằm đạt được mục tiêu của kế hoạch tài khóa là giảm thâm hụt ngân sách xuống mức có thể chấp nhận (3,5% GDP vào năm 2020 theo Kế hoạch tài chính quốc gia do Quốc hội phê duyệt theo Nghị quyết số 25/2016/QH14).

2. Thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế (APA)
Theo Thông tư 201/2013/TT-BTC ngày 20 tháng 12 năm 2013 của Bộ Tài chính, thỏa thuận APA có các hình thức đơn phương, song phương hoặc đa phương. Hiện nay, có khoảng hơn 10 thỏa thuận APA đang được đàm phán tại Việt Nam. Các thỏa thuận này đang được tiến hành tại các bước tham vấn trước khi nộp hồ sơ, thẩm định hồ sơ, trao đổi và đàm phán.

KPMG đã hỗ trợ một khách hàng đàm phán thành công thỏa thuận APA đầu tiên tại Việt Nam.

3. Khiếu nại hành chính trong thanh tra giá chuyển nhượng, thủ tục tư pháp và thủ tục thỏa thuận song phương (MAP)
Về mặt chuyên môn, tất cả các giải pháp giải quyết tranh chấp đều đã được quy định trong các văn bản luật của Việt Nam và các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần đã có hiệu lực. Trên thực tế, quy trình giải quyết khiếu nại thường kéo dài với những kết quả trái ngược, thủ tục tư pháp chưa rõ ràng và việc thực hiện thủ tục thỏa thuận song phương theo hiệp định tránh đánh thuế hai lần chưa mang lại hiệu quả như mong muốn.

Giải pháp cơ bản và có hiệu quả để hạn chế tranh chấp là người nộp thuế phải tuân thủ và chuẩn bị sẵn sàng cho các cuộc thanh tra, kiểm tra. Đồng thời, người nộp thuế cần thể hiện sự hợp tác với cơ quan thuế trong quá trình thanh tra.

4. Ấn định giá chuyển nhượng
Theo các quy định hiện hành của pháp luật, người nộp thuế không tuân thủ nguyên tắc giao dịch độc lập và không kê khai Giao dịch liên kết hoặc không xuất trình Hồ sơ xác định giá Giao dịch liên kết sẽ bị ấn định giá chuyển nhượng hoặc lợi nhuận hoặc thu nhập chịu thuế hoặc thuế Thu nhập doanh nghiệp.

5. Phạt
Theo Luật quản lý thuế, các khoản phạt gồm có: phạt 10% đến 20% đối với số tiền thuế bị truy thu tùy thuộc vào kỳ tính thuế, cùng tiền lãi chậm nộp (0,05%/ ngày đến 0,07%/ngày đối với số tiền thuế bị truy thu (0,03%/ngày đối với giai đoạn từ ngày 1 tháng 7 năm 2016)) hoặc phạt trốn thuế (từ một đến ba lần số thuế bị truy thu), tùy thuộc vào bản chất và hoàn cảnh của lỗi vi phạm.

Bản tin nhanh về Thuế

Báo cáo tổng hợp của KPMG Việt Nam về những cập nhật thuế mới nhất.

 
Tìm hiểu thêm

Cập nhật Thông tin về Thuế và Luật

Cập nhật thông tin về thuế và luật của KPMG là những thông tin điều chỉnh mới nhất trong luật và quản lý về thuế cùng những tác động liên quan.

 
Tìm hiểu thêm

Kết nối cùng chúng tôi

 

Đề nghị Mời thầu

 

Gửi